Từ năm 2025, Đài Loan dùng vắc xin Tdap thay Td cho mũi nhắc 10 năm vì Td đã ngừng sản xuất. Tdap là vắc xin phối hợp giảm liều phòng uốn ván, bạch hầu và ho gà cho thanh thiếu niên hoặc người lớn. Td là vắc xin giảm liều phòng uốn ván và bạch hầu, không có thành phần ho gà. Cục Kiểm soát Dịch bệnh Đài Loan (CDC Đài Loan) là cơ quan phụ trách giám sát bệnh truyền nhiễm và chính sách tiêm chủng tại Đài Loan. Mốc 10 năm áp dụng cho lịch nhắc định kỳ, không đủ để tự quyết định sau một vết thương.

Bào tử vi khuẩn gây uốn ván hiện diện trong đất, bụi và phân, rồi xâm nhập qua vùng da bị tổn thương. Gỉ sét không gây uốn ván; nguy cơ đến từ vi khuẩn xâm nhập qua vết đâm xuyên hoặc mô nhiễm bẩn. Uốn ván không lây trực tiếp từ người sang người. Với ho gà, nguồn lây trong gia đình thường là người chăm sóc hoặc người sống cùng nhà. Trẻ dưới 6 tháng thường chưa đủ bảo vệ từ loạt vắc xin.

Người lớn được tiêm vắc xin Tdap tại phòng khám (ảnh minh họa)

Vết thương và dấu hiệu cần được đánh giá ngay

Hướng dẫn tại Đài Loan yêu cầu vết thương dính đất, bụi hoặc phân được xử trí tại bệnh viện. Tình trạng nhiễm bẩn cần được thông báo rõ cho bác sĩ. Trung tâm Kiểm soát và Phòng ngừa Dịch bệnh Mỹ (CDC Mỹ) xếp vết đâm xuyên, vết cắn và mô hoại tử vào nhóm bẩn hoặc lớn. Xử trí ban đầu gồm làm sạch, lấy dị vật và loại bỏ mô hoại tử khi cần. Bác sĩ đánh giá hồ sơ tiêm để xác định nhu cầu vắc xin hoặc globulin miễn dịch uốn ván (TIG).

Triệu chứng uốn ván thường xuất hiện 3-21 ngày sau phơi nhiễm, trung bình khoảng 8 ngày. Cứng hàm, khó nuốt, co thắt cơ đột ngột, cứng đau toàn thân, co giật hoặc khó thở cần được điều trị ngay tại bệnh viện. Uốn ván là tình trạng cấp cứu và không phù hợp với theo dõi tại nhà. Sau tiêm, sưng đỏ nặng kéo dài nhiều ngày, hóa mủ tại chỗ tiêm hoặc sốt dai dẳng cũng là lý do cần khám sớm.

Lịch 10 năm và hồ sơ tiêm chưa đầy đủ

CDC Đài Loan khuyến nghị người không rõ lịch sử tiêm hoặc chưa hoàn thành loạt cơ bản tiêm một liều Tdap, rồi tiêm nhắc 10 năm một lần. Khoa Y học Gia đình của National Cheng Kung University Hospital (NCKU Hospital), bệnh viện đại học ở Đài Nam, trình bày phác đồ ba liều dựa trên Td. Phác đồ này dành cho người chưa hoàn tất loạt cơ bản. Hướng dẫn hiện hành cho biết Td đã ngừng sản xuất và Tdap được dùng thay thế từ năm 2025. Vì vậy, một liều Tdap trên trang thông tin chung là điểm khởi đầu, không chứng minh loạt tiêm cơ bản của từng người đã hoàn tất.

Lịch nhắc định kỳ và xử trí sau chấn thương là hai quyết định khác nhau. Hướng dẫn CDC Mỹ dùng ngưỡng 10 năm cho vết thương sạch, nhỏ và 5 năm cho vết thương bẩn hoặc lớn sau loạt tiêm cơ bản. Người không rõ lịch sử tiêm, chưa từng tiêm hoặc chưa hoàn tất loạt cơ bản cần được đánh giá tiêm chủng với mọi loại vết thương. TIG còn được xem xét cho vết thương bẩn hoặc lớn ở một số hồ sơ có nguy cơ cao. Đây là hướng dẫn lâm sàng của Mỹ; cơ sở y tế tại Đài Loan quyết định xử trí theo hồ sơ và quy trình áp dụng tại Đài Loan.

Tdap trong thai kỳ và lớp bảo vệ quanh trẻ sơ sinh

CDC Đài Loan khuyến nghị một liều Tdap trong tuần 27-36 của mỗi thai kỳ để tối đa hóa lượng kháng thể truyền sang thai nhi. Khuyến nghị áp dụng dù người mang thai từng tiêm Tdap trước đó. Tại Đài Loan, trẻ bắt đầu nhận vắc xin chứa thành phần ho gà khi đủ 2 tháng tuổi. Vì thế, giai đoạn đầu đời vẫn là khoảng trống dễ tổn thương. Nếu không tiêm trong thai kỳ, CDC Đài Loan nêu phương án tiêm ngay sau sinh.

Người chăm sóc trẻ sơ sinh được CDC Đài Loan khuyến nghị tiêm một liều Tdap vì họ thường xuất hiện trong chuỗi lây nhiễm gia đình. Cách tiếp cận này thường được gọi là chiến lược “bao quanh” (cocooning). CDC Mỹ đánh giá tiêm cho người tiếp xúc gần chỉ là lớp bổ sung và không thay thế Tdap trong thai kỳ. Hồ sơ tiêm của từng người và thời điểm dự kiến tiếp xúc gần với trẻ là hai dữ kiện cần được cơ sở tiêm xem xét.

Hướng dẫn Việt Nam theo Quyết định 1139/QĐ-BYT năm 2026 nêu một liều Tdap trong mỗi thai kỳ. Thời điểm là tuần 26-36 hoặc theo khuyến nghị của sản phẩm đã được Bộ Y tế Việt Nam phê duyệt. Bản được kiểm tra do Trung tâm Y tế khu vực Hàm Tân, đơn vị thuộc Sở Y tế tỉnh Lâm Đồng, công bố. Khoảng thời gian này khác mốc tuần 27-36 đang dùng tại Đài Loan. Lịch của một nơi không xác lập tình trạng cung ứng, chi phí hoặc chỉ định tại nơi còn lại.

Người mang thai trao đổi về vắc xin Tdap để bảo vệ trẻ sơ sinh (ảnh minh họa)

Trẻ em và những hồ sơ cần đánh giá riêng

Lịch nhắc 10 năm dành cho người lớn không áp dụng trực tiếp cho trẻ em. Tại Đài Loan, trẻ nhận vắc xin phối hợp phòng bạch hầu, uốn ván và ho gà vô bào (DTaP) lúc 2, 4, 6 và 18 tháng tuổi. Một liều phối hợp khác được tiêm từ 5 tuổi đến trước khi vào tiểu học. Thai kỳ cũng có lịch riêng theo từng lần mang thai. Trẻ bị lỡ lịch cần được cơ sở tiêm xác định phần còn thiếu theo tuổi, không dùng khoảng cách 10 năm của người lớn.

CDC Đài Loan yêu cầu đánh giá riêng người từng dị ứng nặng với vắc xin. Quy tắc này cũng áp dụng khi đang sốt, mắc bệnh cấp tính vừa đến nặng hoặc có tiền sử thần kinh sau liều trước. CDC Mỹ còn xếp người nhiễm HIV hoặc suy giảm miễn dịch nặng có vết thương bẩn vào nhóm cần đánh giá TIG. Các nguồn trên không đưa ra một lịch riêng dùng chung cho mọi bệnh mạn tính hoặc mọi thuốc sử dụng dài ngày. Cơ sở tiêm cần xem hồ sơ bệnh, danh sách thuốc và phản ứng sau các liều trước trước khi sắp lịch.

Con số hiệu quả phải đặt đúng đối tượng

Trang của NCKU Hospital nêu khoảng 95% trẻ đã hoàn tất loạt vắc xin duy trì hiệu quả phòng uốn ván và bạch hầu khoảng 10 năm. Con số nằm trong mục vắc xin trẻ em, không đo hiệu quả Tdap ở người lớn. Phiên bản trang được kiểm tra cũng không công bố tỷ lệ 70% cho ho gà hoặc thời gian bảo vệ 5-10 năm của thành phần này. Vì vậy, các tỷ lệ đó không được dùng để dự báo mức bảo vệ của một người lớn sau Tdap.

Vắc xin làm giảm nguy cơ nhưng không xóa bỏ hoàn toàn khả năng mắc bệnh hoặc lây truyền. Lịch nhắc định kỳ cũng không thay thế làm sạch và đánh giá vết thương sau chấn thương. Với trẻ sơ sinh, Tdap trong thai kỳ và tiêm chủng cho người chăm sóc là hai lớp bảo vệ riêng. Mức bảo vệ thực tế còn phụ thuộc thời điểm tiêm, số liều đã hoàn tất và tình trạng sức khỏe.

Bốn dữ kiện quyết định bước tiếp theo

Loại vết thương, mức nhiễm bẩn, thời điểm tiêm gần nhất và tình trạng hoàn tất loạt cơ bản là bốn dữ kiện chính trong đánh giá uốn ván. Lịch Tdap 10 năm tại Đài Loan giải quyết nhu cầu nhắc định kỳ, còn chấn thương mới cần một đánh giá riêng. Thai kỳ, tuổi của trẻ và suy giảm miễn dịch tiếp tục làm thay đổi cách sắp lịch hoặc nhu cầu TIG. Các mốc của Đài Loan và Việt Nam cần được đọc theo đúng nơi áp dụng.