Ho, sổ mũi, đau họng và sốt xuất hiện ở cả cảm lạnh, cúm cùng các bệnh hô hấp cấp khác. Cục Kiểm soát Dịch bệnh Đài Loan (CDC Đài Loan) là cơ quan phụ trách giám sát và phòng chống bệnh truyền nhiễm tại Đài Loan. CDC Đài Loan cho biết cúm khó phân biệt với cảm lạnh và các bệnh hô hấp cấp khác nếu chỉ dựa vào biểu hiện lâm sàng. Trước ngày khai giảng, hướng xử lý cần dựa vào nhịp thở, mức tỉnh táo, hoạt động và khả năng uống nước của trẻ.
Các mốc về cấp cứu, thuốc và trở lại trường nêu dưới đây thuộc hệ thống tại Đài Loan. Các mốc này dành cho người chăm sóc trẻ tại Đài Loan, bao gồm gia đình Việt Nam đang sinh sống tại đây. Chính sách trường học ở Việt Nam không được suy ra từ những mốc này.
Dấu hiệu cần đưa trẻ đến bệnh viện ngay
Khó thở, thở gấp, môi tím, đau ngực hoặc thay đổi ý thức không chờ theo dõi tại nhà. CDC Đài Loan yêu cầu nhanh chóng đến bệnh viện lớn khi xuất hiện các dấu hiệu trên, ho ra máu hoặc sốt cao kéo dài 72 giờ. Ở trẻ nhỏ, khó đánh thức và hoạt động giảm rõ cũng là dấu hiệu nguy hiểm. Những biểu hiện này cần được xử lý ngay, không chờ thuốc hạ sốt phát huy tác dụng.
Cục Quản lý Thực phẩm và Dược phẩm Đài Loan (TFDA) là cơ quan phụ trách an toàn thuốc và thực phẩm tại Đài Loan. TFDA khuyến cáo trẻ nhỏ sốt không rõ nguyên nhân cần được khám, thay vì tự mua thuốc hạ sốt. Trẻ sốt cao kéo dài hơn hai ngày, hoặc vẫn kém hoạt bát và ăn uống kém sau khi hạ sốt, cần tái khám sớm. Mốc tái khám này không thay thế nhóm dấu hiệu phải đến bệnh viện ngay.
Cảm lạnh và cúm không được phân biệt bằng một triệu chứng
Cảm lạnh và cúm đều gây ho, sổ mũi hoặc đau họng. Cúm thường khởi phát đột ngột hơn và hay kèm sốt, đau đầu, đau cơ cùng mệt mỏi. Mức độ biểu hiện vẫn thay đổi theo tuổi, bệnh nền và đáp ứng miễn dịch. Chẩn đoán vì thế cần dựa trên đánh giá lâm sàng, không dựa riêng vào màu nước mũi hay một lần đo nhiệt độ.
CDC Đài Loan nêu thuốc kháng virus đạt hiệu quả tốt nhất khi bắt đầu trong 48 giờ đầu của cúm. Người bệnh nặng hoặc thuộc nhóm nguy cơ cao vẫn nhận được lợi ích khi điều trị sau mốc này. Quyết định dùng thuốc và lựa chọn thuốc thuộc đánh giá của bác sĩ. Một kết quả xét nghiệm nhanh cũng không đủ làm căn cứ duy nhất cho quyết định điều trị.
CDC Đài Loan xếp trẻ dưới 5 tuổi và người mắc một số bệnh mạn tính vào nhóm nguy cơ cao. Bác sĩ quyết định dùng thuốc kháng virus công phí sau khi đánh giá người bệnh. Nhóm bệnh nền gồm bệnh tim, phổi, thận, rối loạn chuyển hóa và suy giảm miễn dịch. Trẻ thuộc các nhóm này cần được đánh giá sớm khi xuất hiện triệu chứng giống cúm. Trẻ dùng thuốc dài ngày không tự thay đổi thuốc đang dùng trước buổi khám.
Chăm sóc tại nhà tập trung vào nghỉ ngơi và bù nước
Nghỉ ngơi và uống nước theo khả năng giúp trẻ vượt qua giai đoạn khó chịu. CDC Đài Loan cho biết cố làm trẻ toát mồ hôi không làm giảm triệu chứng cảm lạnh và còn tăng nguy cơ mất nước. Quần áo nên thoải mái, còn nước được chia thành lượng nhỏ và nhiều lần. Mức tỉnh táo, lượng nước uống và số lần đi tiểu giúp người chăm sóc theo dõi diễn tiến.
Trẻ sốt hoặc mệt rõ nên nghỉ ở nhà thay vì đến lớp. CDC Đài Loan khuyến cáo rửa tay, giữ phòng thông thoáng, che miệng khi ho hoặc hắt hơi và nghỉ học khi đang bệnh. Khăn giấy đã dùng cần được bỏ đi, sau đó người chăm sóc rửa tay khi tiếp xúc dịch mũi hoặc đờm. Các biện pháp này giảm cơ hội đưa virus từ gia đình vào lớp học.
Ghi chép nên bắt đầu từ thời điểm xuất hiện sốt, ho hoặc mệt mỏi. Nhiệt độ cao nhất, tình trạng thở, lượng nước uống, số lần đi tiểu và thuốc đã dùng là những dữ liệu hữu ích khi khám. Túi thuốc, nhãn thuốc hoặc ảnh chụp bao bì giúp bác sĩ và dược sĩ kiểm tra thành phần. Cách ghi này cũng hạn chế nhầm lẫn giữa thuốc được kê và thuốc sẵn có trong nhà.
Thuốc hạ sốt, thuốc cảm phối hợp và kháng sinh có vai trò khác nhau
Thuốc hạ sốt làm giảm khó chịu do sốt, nhưng không xác định nguyên nhân gây bệnh. TFDA yêu cầu dùng thuốc hạ sốt cho trẻ theo hướng dẫn của bác sĩ và không tự tăng lượng dùng. Nhiệt độ giảm chậm không cho phép tự dùng thêm thuốc. Phát ban hoặc biểu hiện bất thường sau khi uống thuốc cần được báo cho nhân viên y tế.
TFDA cho biết thuốc cảm phối hợp có thể chứa thành phần hạ sốt, giảm đau, kháng histamine, giảm ho hoặc long đờm. Các thuốc này chỉ giảm triệu chứng và không phòng ngừa cảm lạnh. Dùng đồng thời nhiều thuốc cảm hoặc tự tăng lượng dùng làm tăng nguy cơ tác dụng phụ. Khi trẻ có cả đơn từ phòng khám và thuốc trong nhà, dược sĩ hoặc bác sĩ cần kiểm tra từng hoạt chất.
TFDA cho biết ho, sổ mũi và đau họng ở trẻ thường do virus, nên kháng sinh không giúp cải thiện các trường hợp này. Kháng sinh không được tự mua, dùng thuốc còn lại của người khác hoặc yêu cầu kê khi chưa có chỉ định. Khi bác sĩ đã kê, thuốc được dùng đủ liệu trình theo hướng dẫn và không tự ngừng. Phát ban, tiêu chảy hoặc phản ứng bất thường trong lúc dùng thuốc cần được đánh giá.
Điều kiện trở lại lớp tại Đài Loan
CDC Đài Loan quy định học sinh mắc cúm chỉ trở lại lớp sau ít nhất 24 giờ hết sốt mà không dùng thuốc hạ sốt. Mốc này chỉ áp dụng cho cúm trong hướng dẫn của CDC Đài Loan. Trẻ vẫn mệt rõ hoặc cần được chăm sóc thường xuyên chưa phù hợp để tham gia cả buổi học. Quy định của trường và đánh giá của bác sĩ vẫn được áp dụng cùng mốc 24 giờ.
Sau khi trở lại lớp, trẻ còn triệu chứng hô hấp nhẹ vẫn cần rửa tay và che miệng, mũi khi ho hoặc hắt hơi. Trẻ đeo khẩu trang theo tình trạng, độ tuổi và quy định của trường. Cốc uống nước, dụng cụ ăn và khăn cá nhân không được dùng chung. Nếu sốt trở lại hoặc tình trạng xấu đi, trẻ cần rời lớp và được đánh giá lại.
Mốc tại Đài Loan không tự động áp dụng ở Việt Nam
Quy tắc hết sốt 24 giờ nêu trên thuộc hướng dẫn phòng chống cúm tại Đài Loan. Các nguồn đã kiểm tra không xác lập cùng một mốc trở lại trường cho trẻ ở Việt Nam. Đến ngày 17 tháng 8 năm 2026, chúng tôi chưa tìm thấy văn bản chính thức của cơ quan y tế Việt Nam quy định mốc trở lại trường. Quy định tại Việt Nam phải được xác định theo nhà trường và cơ quan y tế có thẩm quyền tại thời điểm áp dụng.
Cấp cứu, khám bệnh và trở lại lớp là ba quyết định riêng. Dấu hiệu nguy hiểm quyết định mức khẩn cấp, còn thời điểm khởi phát và bệnh nền ảnh hưởng thời gian đánh giá cúm. Mốc hết sốt cùng tình trạng hoạt động và quy định trường học quyết định khả năng trở lại lớp. Thuốc cho trẻ vẫn được dùng theo đánh giá của bác sĩ hoặc dược sĩ.
Nguồn và tài liệu tham khảo
- Giới thiệu bệnh cúm mùa tại Đài Loan (tiếng Trung)(Cục Kiểm soát Dịch bệnh Đài Loan)
- Hỏi đáp về phòng chống cúm mùa tại Đài Loan (tiếng Trung)(Cục Kiểm soát Dịch bệnh Đài Loan)
- Hỏi đáp về thuốc kháng virus điều trị cúm tại Đài Loan (tiếng Trung)(Cục Kiểm soát Dịch bệnh Đài Loan)
- Khuyến cáo sử dụng kháng sinh an toàn cho trẻ em (tiếng Trung)(Cục Quản lý Thực phẩm và Dược phẩm Đài Loan)
- Hướng dẫn dùng thuốc hạ sốt cho trẻ nhỏ (tiếng Trung)(Cục Quản lý Thực phẩm và Dược phẩm Đài Loan)
- Thông tin sử dụng thuốc cảm đúng cách (tiếng Trung)(Cục Quản lý Thực phẩm và Dược phẩm Đài Loan)
- Giải thích về nguy cơ mất nước khi cố làm toát mồ hôi lúc cảm lạnh (tiếng Trung)(Cục Kiểm soát Dịch bệnh Đài Loan)