Thiểu ối (oligohydramnios) là tình trạng lượng nước ối thấp hơn mức dự kiến theo tuổi thai. Lượng nước ối không được đo trực tiếp mà được ước tính qua siêu âm. Hai phép đo thường dùng là chỉ số nước ối (amniotic fluid index, AFI) và khoang ối sâu nhất (single deepest pocket, SDP). Cẩm nang MSD bản chuyên môn nêu ngưỡng AFI không quá 5 cm hoặc SDP dưới 2 cm.
Kết quả dưới ngưỡng là điểm bắt đầu cho đánh giá sản khoa, không tự xác định tiên lượng. Bác sĩ còn xem tuổi thai, dấu hiệu vỡ ối, tăng trưởng thai, cấu trúc hệ tiết niệu, tuần hoàn nhau thai và cử động thai. Thiểu ối xuất hiện sớm hoặc đi kèm bất thường cần được đánh giá khác với trường hợp nhẹ, đơn độc ở gần ngày sinh.
Dấu hiệu cần được đánh giá ngay tại bệnh viện
Bệnh viện Cựu chiến binh Đài Trung là cơ sở khám chữa bệnh tại Đài Trung, Đài Loan. Bệnh viện hướng dẫn thai phụ đến phòng sinh ngay khi nghi vỡ ối, giảm cử động thai, chảy nhiều máu tươi hoặc đau bụng dữ dội liên tục. Dịch trong như nước chảy từ âm đạo mà không kiểm soát được vẫn cần kiểm tra dù chưa có cơn co. Thai phụ đang ở Đài Loan nên làm theo chỉ dẫn của cơ sở sản khoa đang quản lý thai.
Hiệp hội Sản phụ khoa Hoàng gia Anh (RCOG) là tổ chức chuyên môn về sản phụ khoa tại Anh. RCOG yêu cầu trở lại bệnh viện ngay khi sốt, nóng rét, chảy máu âm đạo, dịch rỉ chuyển xanh hoặc có mùi, đau bụng, co thắt hay thai cử động khác thường. Các dấu hiệu nhiễm trùng sau vỡ ối gồm sốt, mạch nhanh, dịch âm đạo có mùi khó chịu và đau vùng bụng dưới. Không chờ đến lần khám thai kế tiếp khi xuất hiện các biểu hiện trên.
Hai phép đo siêu âm cho biết điều gì
AFI chia tử cung thành bốn phần rồi cộng độ sâu thẳng đứng của khoang dịch phù hợp ở mỗi phần. SDP chỉ đo khoang dịch sâu nhất trong toàn bộ tử cung. Khoang được chọn không chứa chi thai hoặc dây rốn trong vùng đo. Cả hai con số đều phải được đọc cùng tuổi thai và các kết quả khám khác.
AFI và SDP đôi khi xếp cùng một thai kỳ vào hai nhóm khác nhau. Một phân tích gộp đã so sánh phương pháp đo khoang ối lớn nhất với AFI. Kết quả từ 6 nghiên cứu với 4.278 thai phụ ghi nhận tỷ lệ chẩn đoán thiểu ối thấp hơn, với nguy cơ tương đối gộp 0,38 khi dùng khoang ối lớn nhất. Phân tích không ghi nhận kết cục chu sinh xấu hơn ở nhóm dùng phép đo này.
Nguyên nhân thay đổi theo tuổi thai
Hiệp hội Siêu âm Sản phụ khoa Quốc tế (ISUOG) là tổ chức chuyên môn quốc tế về siêu âm trong sản phụ khoa. ISUOG liệt kê vỡ ối, bất thường chức năng nhau thai, vấn đề ở thận hoặc bàng quang của thai, một số thuốc và thai quá ngày trong các nguyên nhân thiểu ối. Sau khi phát hiện lượng ối thấp, siêu âm chi tiết thường tập trung vào cấu trúc thai, nhất là thận và bàng quang. Tăng trưởng thai và dòng máu qua Doppler cũng giúp nhận diện tình trạng liên quan đến nhau thai.
Một số thuốc dùng trong thai kỳ liên quan đến lượng ối thấp, nhưng thai phụ không nên tự ngừng hoặc đổi thuốc. Bác sĩ cần đối chiếu tên thuốc, bệnh nền, tuổi thai và kết quả siêu âm trước khi điều chỉnh. Người mắc tăng huyết áp, bệnh thận hoặc bệnh mạn tính khác cần kế hoạch riêng, không áp dụng nguyên vẹn lịch theo dõi của thai kỳ không có bệnh kèm.
Nguy cơ không nằm ở một con số riêng lẻ
ISUOG ghi nhận trường hợp nhẹ, xuất hiện muộn và không có bất thường khác thường có tiên lượng tốt hơn. Nguy cơ tăng khi thiểu ối xuất hiện sớm, lượng dịch giảm nhiều hoặc đi kèm vỡ ối, nhiễm trùng và thai chậm tăng trưởng. Các biến chứng được mô tả gồm sinh non, ngôi thai bất thường, chèn ép dây rốn và thai khó chịu đựng chuyển dạ. Thiểu ối nặng từ sớm còn liên quan đến phát triển phổi hoặc chi không đầy đủ.
Tuổi thai quyết định ý nghĩa của cùng một kết quả đo. Ở giai đoạn sớm, bác sĩ cần khảo sát kỹ hệ tiết niệu của thai và khả năng vỡ ối. Gần đủ tháng, nhóm sản khoa cân nhắc tình trạng thai, nhau thai và kết quả theo dõi trước khi bàn thời điểm sinh. AFI hoặc SDP riêng lẻ không trả lời được thai phụ cần nhập viện hay sinh ngay.
Lịch theo dõi phải gắn với nguyên nhân
Với trường hợp được theo dõi ngoại trú, Cẩm nang MSD nêu khung kiểm tra tình trạng thai một hoặc hai lần mỗi tuần và siêu âm tăng trưởng mỗi hai đến bốn tuần. Theo dõi tình trạng thai thường gồm nghiệm pháp không gắng sức hoặc hồ sơ sinh vật lý. Thai chậm tăng trưởng, tăng huyết áp thai kỳ, vỡ ối hay kết quả theo dõi bất thường sẽ làm thay đổi tần suất và nơi theo dõi. Nhóm sản khoa quyết định tiếp tục ngoại trú hay nhập viện dựa trên toàn bộ dữ liệu.
Hiệp hội Sản phụ khoa Hoa Kỳ (ACOG) là tổ chức chuyên môn của bác sĩ sản phụ khoa tại Hoa Kỳ. Ý kiến của Ủy ban số 828 thuộc ACOG nhấn mạnh các lịch theo dõi trước sinh là gợi ý và cần được cá thể hóa. Tài liệu không biến tần suất một hoặc hai lần mỗi tuần thành yêu cầu cố định cho mọi thai phụ. Quyết định còn phụ thuộc vào bệnh đi kèm và thời điểm mà kết quả bất thường sẽ dẫn đến thay đổi xử trí.
ISUOG nêu chưa có biện pháp cụ thể nào làm tăng lượng nước ối ổn định cho mọi nguyên nhân. Uống nhiều nước không thay thế kiểm tra vỡ ối, nhau thai hoặc hệ tiết niệu của thai. Thai phụ không tự dùng thuốc, ngừng thuốc hoặc coi bù nước là cách xử lý duy nhất cho một kết quả siêu âm. Kế hoạch tiếp theo phải dựa trên lần khám sản khoa và nguyên nhân đã xác định.
Các ngưỡng và lịch theo dõi trong bài đến từ nguồn chuyên môn quốc tế. Tính đến thời điểm bài viết được thực hiện, chúng tôi chưa tìm thấy văn bản chính thức của cơ quan chức năng Việt Nam đưa ra số liệu so sánh cho trường hợp này. Ngưỡng và lịch áp dụng tại Việt Nam có thể khác theo cơ sở và tình trạng thai. Thai phụ khám tại Việt Nam cần xác nhận kế hoạch với nhóm sản khoa đang theo dõi thai.
Ba câu hỏi thường gặp
Thiểu ối có đồng nghĩa phải nhập viện không?
Không phải mọi trường hợp đều cần nhập viện. Quyết định dựa trên tuổi thai, vỡ ối, nhiễm trùng, tăng trưởng thai, tuần hoàn nhau thai và kết quả theo dõi tim thai. Một số trường hợp đơn độc được theo dõi ngoại trú theo lịch của nhóm sản khoa. Dấu hiệu cảnh báo hoặc kết quả bất thường sẽ làm thay đổi kế hoạch.
AFI bao nhiêu được xem là thấp?
Ngưỡng thường dùng trong Cẩm nang MSD là AFI không quá 5 cm. Với phương pháp SDP, ngưỡng thường dùng là dưới 2 cm. Hai phép đo đôi khi cho kết quả phân loại khác nhau, nên bác sĩ phải đọc chúng cùng tuổi thai và các phát hiện khác.
Thiểu ối ở giữa thai kỳ có chờ đến lần khám kế tiếp được không?
Thời gian tái khám cần do nhóm sản khoa quyết định sau khi biết tuổi thai và mức giảm nước ối. Trường hợp xuất hiện sớm cần loại trừ vỡ ối, bất thường thận hoặc đường tiết niệu, vấn đề nhau thai và thai chậm tăng trưởng. Rỉ dịch, giảm cử động thai, chảy máu, sốt, dịch có mùi hoặc đau bụng là lý do đến bệnh viện ngay. Không tự kéo dài thời gian chờ dựa trên một con số AFI hoặc SDP.
Nguồn và tài liệu tham khảo
- Ý kiến của Ủy ban số 828 về theo dõi thai trước sinh ngoại trú (tiếng Anh)(Hiệp hội Sản phụ khoa Hoa Kỳ)
- Thiểu ối trong Cẩm nang MSD bản chuyên môn (tiếng Anh)(Cẩm nang MSD)
- Thông tin dành cho người bệnh về thiểu ối (tiếng Anh)(Hiệp hội Siêu âm Sản phụ khoa Quốc tế)
- Giá trị chẩn đoán của khoang ối lớn nhất so với chỉ số nước ối (tiếng Anh)(PubMed)
- Dấu hiệu chuyển dạ và thời điểm đến bệnh viện (tiếng Trung)(Bệnh viện Cựu chiến binh Đài Trung)
- Thông tin về vỡ ối sớm (tiếng Anh)(Hiệp hội Sản phụ khoa Hoàng gia Anh)