Liệu pháp nhận thức hành vi cho mất ngủ (cognitive behavioral therapy for insomnia, CBT-I) phối hợp thay đổi suy nghĩ và hành vi duy trì mất ngủ. Học viện Y học Giấc ngủ Hoa Kỳ (AASM) đưa ra khuyến nghị mạnh về CBT-I đa thành phần cho người lớn mắc mất ngủ mạn tính. AASM xác định tình trạng mạn tính khi rối loạn giấc ngủ kèm triệu chứng ban ngày xuất hiện ít nhất ba lần mỗi tuần trong tối thiểu ba tháng. Tiêu chí này phân biệt một rối loạn kéo dài với vài đêm khó ngủ do thay đổi lịch sinh hoạt.
Tại Đài Loan, Bệnh viện trực thuộc Đại học Y khoa Cao Hùng (KMUH) là một bệnh viện đại học ở Cao Hùng. Tài liệu KMUH tháng 2 năm 2026 trình bày giáo dục, giới hạn thời gian nằm giường, kiểm soát kích thích, vệ sinh giấc ngủ, nhận thức và thư giãn. Cách tiếp cận này nhằm xử lý những yếu tố khiến mất ngủ tiếp diễn, thay vì chỉ tạo buồn ngủ trong một đêm. Phác đồ cụ thể vẫn cần dựa trên đánh giá của nhân viên y tế.
Những trường hợp cần trợ giúp ngay
Mất ngủ đơn thuần thường được đánh giá theo lịch hẹn, nhưng một số triệu chứng đi kèm làm thay đổi mức độ khẩn cấp. Ý định tự sát hoặc gây hại cho người khác, tiếng nói thúc giục gây hại, ảo giác tăng nhanh hay lú lẫn đột ngột đều cần cấp cứu. Tại Đài Loan, 119 là số cứu nạn khẩn cấp hoạt động 24 giờ; 112 hỗ trợ chuyển cuộc gọi khi điện thoại không kết nối được với 119. Bộ Y tế và Phúc lợi Đài Loan là cơ quan trung ương phụ trách y tế và an sinh. Đường dây 1925 của cơ quan này tư vấn tâm lý miễn phí suốt 24 giờ.
Bằng chứng so với thuốc ngủ
Tổng quan năm 2022 ghi nhận CBT-I với nhà trị liệu hiệu quả tương đương thuốc an thần gây ngủ trong 4 đến 8 tuần. Sau hơn 3 tháng, tổng quan đánh giá CBT-I hiệu quả hơn. Các kết quả này tổng hợp dữ liệu theo nhóm, không dự báo chính xác đáp ứng của từng người. AASM cho biết thuốc vẫn có vai trò khi người bệnh không tham gia được CBT-I, còn triệu chứng sau trị liệu hoặc cần hỗ trợ tạm thời. Người đang dùng thuốc kê đơn cần trao đổi với bác sĩ trước khi thay đổi hay ngừng thuốc.
Cùng tổng quan ghi nhận 70 đến 80% người tham gia đáp ứng trong giai đoạn cấp, thường đo bằng thang ISI (Insomnia Severity Index). Đáp ứng trên thang điểm không đồng nghĩa khỏi hẳn hoặc không bao giờ tái phát. Bài tổng quan cũng nêu khác biệt giữa các nghiên cứu theo dõi dài hạn; một số phân tích cho thấy lợi ích còn tồn tại nhưng giảm dần. Vì vậy, mốc 70 đến 80% cần được đọc cùng tiêu chí đo lường và thời gian theo dõi.
CBT-I gồm những thành phần nào
CBT-I là một chương trình nhiều thành phần, không phải tên gọi khác của vài mẹo vệ sinh giấc ngủ. AASM cho biết liệu trình thường kéo dài 4 đến 8 buổi. Trị liệu kết hợp kiến thức về giấc ngủ, kiểm soát kích thích, giới hạn thời gian nằm giường và điều chỉnh suy nghĩ. Thành phần chính xác thay đổi theo phác đồ và tình trạng lâm sàng.
Kiểm soát kích thích hướng tới khôi phục liên hệ giữa giường và trạng thái buồn ngủ. KMUH hướng dẫn người chưa ngủ sau khoảng 20 phút rời phòng ngủ, làm một hoạt động yên tĩnh và ít kích thích, rồi trở lại khi buồn ngủ. Phác đồ còn đặt giờ thức dậy ổn định và hạn chế thời gian tỉnh táo kéo dài trên giường. Mục tiêu là giảm phản ứng tỉnh táo, lo âu đã gắn với không gian ngủ.
Giới hạn thời gian nằm giường dựa trên nhật ký ngủ để đưa thời gian trên giường gần hơn với thời gian ngủ thực tế. Lịch được điều chỉnh dần theo hiệu suất giấc ngủ, chứ không giữ người bệnh ở mức ngủ ít kéo dài. Hướng dẫn AASM ghi nhận buồn ngủ ban ngày, mệt mỏi, dễ cáu và khó tập trung đôi khi xuất hiện ở giai đoạn đầu của trị liệu hành vi. Các tác động này thường giảm khi liệu trình tiến triển, nhưng vẫn cần được theo dõi.
Trị liệu nhận thức nhận diện những dự đoán thảm họa và niềm tin cứng nhắc về hậu quả của một đêm ngủ kém. Kỹ thuật thư giãn nhằm hạ mức căng thẳng sinh lý trước giờ ngủ. Vệ sinh giấc ngủ xem xét lịch sinh hoạt, caffeine, nicotine, rượu bia, thiết bị điện tử và môi trường phòng ngủ. AASM không khuyến nghị dùng riêng vệ sinh giấc ngủ như một liệu pháp cho mất ngủ mạn tính.
Những nhóm cần được đánh giá riêng
AASM cảnh báo người làm nghề nguy cơ cao không nên tự giới hạn giấc ngủ, gồm lái xe và người vận hành máy móc. Buồn ngủ tăng trong giai đoạn đầu dễ ảnh hưởng an toàn lao động và giao thông. Người có nguy cơ hưng cảm hoặc hưng cảm nhẹ cũng cần được đánh giá trước khi giảm thời gian nằm giường. Cảnh báo tương tự áp dụng cho người mắc động kinh chưa kiểm soát tốt.
Hướng dẫn AASM được dẫn trong bài tập trung vào người lớn mắc mất ngủ mạn tính. Tài liệu đã kiểm tra không đưa ra một lịch giới hạn giấc ngủ chung cho trẻ em hoặc thai phụ. Người mắc bệnh mạn tính hay dùng thuốc dài ngày cũng cần xem xét bệnh nền, lịch làm việc và tác dụng của thuốc trước khi lập phác đồ. Những nhóm này nên trao đổi với bác sĩ hoặc nhà trị liệu được đào tạo về CBT-I thay vì dùng nguyên lịch dành cho người lớn khỏe mạnh.
Tìm hỗ trợ tại Đài Loan và đối chiếu với Việt Nam
Tại Đài Loan, tài liệu KMUH giới thiệu CBT-I trong chuyên ngành tâm thần và đặt trị liệu trong quá trình khám, theo dõi. Trang này không phải danh bạ toàn quốc và không xác nhận mọi bệnh viện đều có chương trình CBT-I hoàn chỉnh. Khi đặt lịch, người bệnh cần hỏi cơ sở có cung cấp CBT-I đa thành phần hay chỉ tư vấn vệ sinh giấc ngủ. Nguồn đã kiểm tra cũng chưa đủ để kết luận cơ chế chi trả cho từng hình thức trị liệu tại Đài Loan.
Cổng thông tin Bộ Y tế Việt Nam đăng lại một bài về mất ngủ hậu COVID-19 vào năm 2022. Bài này nêu liệu pháp nhận thức hành vi và thuốc là hai hướng xử lý. Nguồn là báo Sức khỏe và Đời sống, không phải hướng dẫn lâm sàng quốc gia cho mọi trường hợp mất ngủ mạn tính. Lộ trình khám và quyền lợi điều trị tại Việt Nam vì thế không thể suy ra từ thông tin dịch vụ ở Đài Loan. Tính đến thời điểm bài viết được thực hiện, chúng tôi chưa tìm thấy văn bản chính thức của cơ quan chức năng Việt Nam đưa ra số liệu so sánh cho trường hợp này.
Một chương trình CBT-I đầy đủ bắt đầu bằng đánh giá triệu chứng, nhật ký ngủ và mục tiêu điều trị. Dữ liệu theo dõi giúp nhà trị liệu điều chỉnh thời gian nằm giường thay vì áp dụng một con số cố định cho mọi người. Kiểm soát kích thích, trị liệu nhận thức và giáo dục về giấc ngủ được phối hợp theo diễn tiến. Quyết định thêm thuốc hoặc tiếp tục thuốc thuộc quá trình trao đổi với bác sĩ.
Nguồn và tài liệu tham khảo
- Thông báo về hướng dẫn điều trị hành vi và tâm lý cho mất ngủ mạn tính (tiếng Anh)(Học viện Y học Giấc ngủ Hoa Kỳ)
- Tổng quan về hiệu quả và khả năng triển khai CBT-I (tiếng Anh)(PubMed Central)
- Hướng dẫn lâm sàng về điều trị hành vi và tâm lý cho mất ngủ mạn tính ở người lớn (tiếng Anh)(PubMed Central)
- Thông tin về trị liệu nhận thức hành vi cho mất ngủ (tiếng Trung)(Bệnh viện trực thuộc Đại học Y khoa Cao Hùng)
- Hướng dẫn nhận biết tình huống tâm thần cần trợ giúp khẩn cấp (tiếng Anh)(Dịch vụ Y tế Quốc gia Anh)
- Thông tin về số cấp cứu 119 và 112 tại Đài Loan (tiếng Trung)(Cơ quan Cứu hỏa Quốc gia Đài Loan (NFA))
- Thông tin về đường dây hỗ trợ tâm lý 1925 tại Đài Loan (tiếng Trung)(Bộ Y tế và Phúc lợi Đài Loan)
- Thông tin về liệu pháp nhận thức hành vi cho mất ngủ hậu COVID-19(Cổng thông tin Bộ Y tế Việt Nam)