Quên tên khách hàng hoặc để thất lạc giấy tờ sau tuổi 50 chưa đủ để kết luận sa sút trí tuệ. Khi thay đổi lặp lại, ảnh hưởng đến phán đoán, quản lý tiền bạc hoặc sinh hoạt, bước đầu là đánh giá nhận thức và tìm nguyên nhân. Kích thích từ xuyên sọ, thường gọi là TMS, cần được tách thành ba câu hỏi: điểm kiểm tra có cải thiện không, chức năng hằng ngày có thay đổi không, và phương pháp này có ngăn bệnh hay không.

Một phân tích gộp năm 2024 gồm 143 nghiên cứu với khoảng 5.800 người ghi nhận kết quả thuận lợi trên một số thang đo nhận thức, nhưng các nghiên cứu khác nhau nhiều về chẩn đoán, vùng kích thích, thông số và thời gian theo dõi. Kết quả này chưa đủ để xem TMS là phương pháp phòng ngừa hay chữa khỏi sa sút trí tuệ.

Dấu hiệu cần đánh giá trước khi bàn về kích thích từ xuyên sọ

Suy giảm trí nhớ rõ dần, lặp lại câu hỏi, bỏ quên lịch hẹn, đọc hợp đồng khó hơn hoặc xử lý tiền bạc kém đi đều là lý do nên đặt lịch với chuyên khoa thần kinh hoặc phòng khám trí nhớ. Trầm cảm, thiếu ngủ, bệnh tuyến giáp, bệnh gan thận, thiếu dinh dưỡng và tác dụng phụ của thuốc cũng có thể tạo biểu hiện tương tự. National Institute on Aging khuyến nghị thay đổi trí nhớ rõ rệt cần được nhân viên y tế đánh giá.

Nếu xuất hiện co giật mới, lú lẫn cấp, yếu một bên người, nói khó, đau đầu dữ dội hoặc tình trạng xấu đi nhanh, cần ngừng việc xem xét một liệu trình thử nghiệm và đi cấp cứu. Những dấu hiệu này không dùng để tự xác định bệnh, nhưng cần được xử trí sớm. Người đang dùng thuốc dài ngày, mắc bệnh mạn tính, mang thai hoặc chăm sóc trẻ cũng cần trao đổi riêng với bác sĩ.

TMS, rTMS và iTBS khác nhau ở điểm nào

TMS dùng cuộn dây đặt ngoài da đầu để tạo xung từ và điều biến hoạt động vỏ não. rTMS là kích thích lặp lại, còn iTBS là dạng kích thích theo nhịp bùng phát theta trong thời gian ngắn. Đào tạo nhận thức lại dựa trên bài tập trí nhớ, chú ý hoặc giải quyết vấn đề; hai nhóm can thiệp này không phải một.

Các nghiên cứu thường nhắm vào vùng vỏ não trước trán bên, nhưng cũng khảo sát thùy đỉnh, vùng tiền chêm hoặc mạng liên quan đến hồi hải mã. Tần số, cường độ, số xung mỗi buổi, số tuần và cách định vị đều ảnh hưởng đến thiết kế. Vì vậy, câu “đã làm kích thích từ” chưa cho biết người đó nhận phác đồ nào.

Bốn ô so sánh TMS, rTMS, iTBS và đào tạo nhận thức theo cách can thiệp và mục tiêu

Điểm kiểm tra cải thiện không đồng nghĩa bệnh đã chậm lại

Kết quả thường được báo cáo là điểm nhận thức tổng thể, trí nhớ hoặc một nhiệm vụ cụ thể. Chức năng điều hành và hoạt động hằng ngày cho kết quả kém nhất quán hơn. Điểm số tốt hơn sau vài tuần không chứng minh bệnh tiến triển chậm, cũng không cho biết lợi ích sẽ kéo dài bao lâu.

Một phân tích các thử nghiệm ngẫu nhiên trước đây ghi nhận rTMS tần số cao cải thiện ADAS-Cog so với kích thích giả trong năm thử nghiệm với 148 người, nhưng MMSE, tâm trạng và chức năng không thay đổi nhất quán. Mỗi thang đo chỉ phản ánh một phần năng lực, nên không nên dùng một điểm số duy nhất để kết luận.

Thử nghiệm đa trung tâm, mù đôi năm 2024 ở người Alzheimer nhẹ đến vừa không thấy khác biệt có ý nghĩa giữa kích thích hai bên vùng trán và kích thích giả sau sáu tháng. Cả nhóm đối chứng cũng cải thiện, cho thấy kỳ vọng và việc quen với bài kiểm tra có thể ảnh hưởng kết quả.

Một thử nghiệm khác dùng định vị cá thể hóa theo mạng lưới hồi hải mã ghi nhận khác biệt thuận lợi sau bốn tuần, nhưng chỉ 30 người hoàn tất đánh giá tám tuần. Cần nghiên cứu lớn hơn để xem kết quả có lặp lại và có chuyển thành lợi ích trong sinh hoạt hay không.

Ma trận bằng chứng so sánh điểm nhận thức, chức năng hằng ngày và diễn tiến dài hạn với mức độ không chắc chắn

Không thể gộp suy giảm nhận thức nhẹ với mọi dạng sa sút trí tuệ

Người suy giảm nhận thức nhẹ thường vẫn tự thực hiện phần lớn hoạt động hằng ngày, trong khi bệnh Alzheimer liên quan đến thoái hóa thần kinh. Sa sút trí tuệ do mạch máu, thể Lewy và vùng trán thái dương có triệu chứng cùng cơ chế khác nhau. Kết quả từ nhóm này không tự động áp dụng cho nhóm kia.

Suy giảm nhận thức nhẹ đôi khi là giai đoạn sớm của Alzheimer, nhưng cũng liên quan nguy cơ mạch máu, giấc ngủ, tâm trạng hoặc thuốc. Một thử nghiệm khám phá tại Nhật Bản không tìm thấy khác biệt có ý nghĩa giữa ba nhóm ở nhiều thang đo, còn tín hiệu thuận lợi trong phân tích sau đó biến mất ở tuần 20. Quy mô mẫu và thời gian theo dõi đều làm giới hạn cách diễn giải.

Phòng ngừa sa sút trí tuệ nên bắt đầu từ nguy cơ đã biết

Chưa có đủ bằng chứng cho thấy TMS ngăn được sa sút trí tuệ. Với người chưa có rối loạn nhận thức, kiểm soát huyết áp, đường huyết, mỡ máu, giấc ngủ, thính lực, vận động và quan hệ xã hội phù hợp hơn với bằng chứng hiện có. Người quản lý doanh nghiệp cũng nên ghi lại thời điểm quên, giấc ngủ, rượu bia và tình huống ảnh hưởng công việc trước khi mua bất kỳ liệu trình nào.

Hồ sơ nên gồm kết quả khám, danh sách thuốc và thực phẩm bổ sung, bệnh sử co giật, bệnh sử phẫu thuật não, vật kim loại ở đầu hoặc cổ và thiết bị cấy ghép. Bác sĩ có thể cân nhắc xét nghiệm máu, hình ảnh não hoặc đánh giá tâm lý thần kinh theo từng trường hợp. Không tự ngừng thuốc hoặc tự đổi liều để chuẩn bị cho kích thích.

Kiểm tra an toàn trước khi xem xét rTMS

FDA cảnh báo từ trường trong hệ thống rTMS có thể làm thiết bị cấy ghép di chuyển, nóng lên hoặc hoạt động bất thường. Hướng dẫn an toàn của FDA yêu cầu đánh giá vật kim loại và thiết bị cấy ghép trước khi sử dụng. Máy tạo nhịp, máy kích thích não sâu, ốc vít hoặc mảnh kim loại, máy trợ thính cấy ghép và tiền sử co giật đều phải được nêu rõ cùng kiểu máy và vị trí.

Đau hoặc khó chịu ở da đầu, đau đầu và mệt mỏi ngắn hạn là những bất tiện thường được nhắc đến; co giật là biến cố hiếm nhưng nghiêm trọng. Nếu có dấu hiệu thần kinh mới hoặc tình trạng xấu đi, cần đi cấp cứu thay vì chờ buổi tiếp theo. Trẻ em, thai phụ, người bệnh mạn tính và người dùng thuốc dài ngày cần đánh giá riêng vì dữ liệu không thể áp dụng đồng loạt.

Cách đọc một đề xuất điều trị

Trước khi đồng ý, cần hỏi chẩn đoán của mình có giống nhóm nghiên cứu không, vùng não nào được chọn, phác đồ kéo dài bao lâu, tiêu chí thành công là điểm nhận thức hay chức năng đời sống, và khi nào sẽ dừng nếu không có cải thiện. Giá, hình thức thiết bị hoặc một câu chuyện thành công không thay thế được những thông tin này.

Nghiên cứu hiện có thường bị giới hạn bởi mẫu nhỏ, vùng kích thích và thông số không đồng nhất, bệnh cảnh khác nhau, thời gian theo dõi ngắn và hiệu ứng kích thích giả. Bài quảng bá chỉ nêu một ca cải thiện mà không công bố nhóm đối chứng, thời gian theo dõi và kết quả chức năng thì chưa đủ để hỗ trợ quyết định.

Tại Việt Nam thì sao

Tại Việt Nam, nguồn của Bộ Y tế cho biết Viện Sức khỏe Tâm thần thuộc Bệnh viện Bạch Mai đã triển khai kích thích từ trường xuyên sọ lặp lại cho nhiều người bệnh. Bài giới thiệu ngày 12/7/2025 nêu các chỉ định tâm thần như trầm cảm kháng trị, tâm thần phân liệt và một số rối loạn khác. Đây là bằng chứng về một nơi đã ứng dụng rTMS trong chăm sóc tâm thần, không phải xác nhận rằng phương pháp này đã được Bộ Y tế công nhận là điều trị chuẩn cho bệnh Alzheimer hoặc mọi dạng sa sút trí tuệ.

Người ở Việt Nam muốn hỏi về khả năng tiếp cận nên bắt đầu từ khoa thần kinh, tâm thần hoặc lão khoa của bệnh viện có giấy phép hoạt động. Luật Khám bệnh, chữa bệnh số 15/2023/QH15 đặt khung cho hoạt động khám chữa bệnh và giấy phép hành nghề. Nghị định 96/2023/NĐ-CP của Chính phủ quy định chi tiết một số nội dung của luật và có hiệu lực từ ngày 1/1/2024. Người bệnh nên yêu cầu cơ sở nói rõ rTMS đang được dùng cho chỉ định nào, ai phụ trách chuyên môn và quy trình sàng lọc vật kim loại, thiết bị cấy ghép cùng tiền sử co giật.

Không nên tự suy ra giá từ quảng cáo hoặc từ một bệnh viện khác. Giá một buổi, số buổi, xét nghiệm trước điều trị và khả năng thanh toán bảo hiểm y tế cần hỏi trực tiếp cơ sở, vì bài viết này chưa tìm thấy bảng giá chính thức áp dụng chung cho rTMS trong sa sút trí tuệ tại Việt Nam. Khi hỏi, nên đề nghị báo giá bằng văn bản và tách từng khoản: khám ban đầu, đánh giá nhận thức, hình ảnh hoặc xét nghiệm, mỗi buổi kích thích và theo dõi sau liệu trình.

Thông tin công khai về rTMS tại Việt Nam hiện tập trung vào một số chỉ định tâm thần, còn dữ liệu về Alzheimer và các dạng sa sút trí tuệ chưa cho phép kết luận về mức độ sẵn có, hiệu quả hoặc bảo hiểm. Vì vậy, người bệnh nên giữ lại tên thiết bị, chỉ định dự kiến, nguồn nghiên cứu và kế hoạch đánh giá chức năng trước khi quyết định. Tính đến thời điểm bài viết được thực hiện, chúng tôi chưa tìm thấy văn bản chính thức của cơ quan chức năng Việt Nam đưa ra số liệu so sánh cho trường hợp này.

Kết luận: đặt rTMS trong kế hoạch chăm sóc toàn diện

Kích thích từ xuyên sọ có tín hiệu thuận lợi trên một số bài kiểm tra nhận thức, nhưng nghiên cứu vẫn không đồng nhất và chưa chứng minh khả năng phòng ngừa sa sút trí tuệ. Khi trí nhớ, phán đoán hoặc sinh hoạt thay đổi, đánh giá thần kinh và tìm nguyên nhân vẫn là bước trước tiên.

Nếu gia đình được đề nghị rTMS, hãy đối chiếu chẩn đoán, thông số, nguy cơ, chi phí và cách theo dõi chức năng với một nhân viên y tế có trách nhiệm chuyên môn. Mục tiêu cần được đo trước, trong và sau liệu trình; không nên dùng một điểm số đơn lẻ hoặc một lời quảng cáo để kết luận.