Cơ chế điều chỉnh biên giới carbon của Liên minh châu Âu (Carbon Border Adjustment Mechanism, CBAM) áp dụng từ ngày 1/1/2026. Trách nhiệm pháp lý đối với tờ khai thuộc nhà nhập khẩu EU hoặc đại diện hải quan gián tiếp. Nhà nhập khẩu khai báo lượng phát thải hàm chứa và nộp số chứng chỉ CBAM tương ứng. Doanh nghiệp xuất khẩu tại Đài Loan giữ vai trò cung cấp dữ liệu về hàng hóa và cơ sở sản xuất.

CBAM đưa phát thải phát sinh trong quá trình sản xuất hàng nhập khẩu vào cơ chế giá carbon của EU. Phạm vi hiện gồm xi măng, sắt thép, nhôm, phân bón, điện và hydro. Nhà nhập khẩu hoặc đại diện hải quan gián tiếp nhập hơn 50 tấn hàng CBAM trong một năm phải xin tư cách người khai báo được cấp phép. Mốc 50 tấn không tạo ra quyền miễn cung cấp dữ liệu cho từng nhà xuất khẩu Đài Loan.

Tờ khai đầu tiên, bao quát hàng nhập trong năm 2026, phải được nộp cùng chứng chỉ chậm nhất ngày 30/9/2027. Người khai báo được dùng giá trị thực tế đã kiểm chứng hoặc giá trị mặc định do Ủy ban châu Âu công bố. Giá chứng chỉ dựa trên giá đấu giá hạn ngạch EU ETS, theo bình quân quý trong năm 2026 và bình quân tuần từ năm 2027. Giá carbon đã trả tại nơi sản xuất chỉ được khấu trừ khi nhà nhập khẩu chứng minh được số tiền đó.

Sản phẩm thép, nhôm và xi măng tại khu logistics, đại diện các ngành thuộc CBAM (ảnh minh họa)

Dữ liệu khởi đầu tại nhà máy Đài Loan

Cơ quan Quản lý Biến đổi khí hậu thuộc Bộ Môi trường Đài Loan (CCA) đã lập chuyên trang về quy định và kiểm chứng CBAM. CCA là cơ quan phụ trách chính sách khí hậu và quản lý phát thải tại Đài Loan. Hướng dẫn của cơ quan này đặt doanh nghiệp Đài Loan ở vị trí chuẩn bị dữ liệu cho khách hàng EU. Tư cách người khai báo và nghĩa vụ nộp chứng chỉ vẫn nằm ở phía EU.

Bộ hồ sơ nhận diện gồm mã CN, số lượng hàng, cơ sở sản xuất và kỳ sản xuất. Phần kỹ thuật ghi quy trình cùng phát thải trực tiếp, gián tiếp và của tiền chất. Tiền chất là nguyên liệu đầu vào thuộc phép tính CBAM. CCA yêu cầu dùng bình quân gia quyền khi nhiều dây chuyền trong cùng nhà máy sản xuất mặt hàng đó, thay vì chọn dây chuyền phát thải thấp nhất. Báo cáo tổng phát thải hằng năm của toàn công ty vì thế chưa đủ cho từng mặt hàng xuất khẩu.

Kế hoạch giám sát và báo cáo phát thải phải được soạn bằng tiếng Anh theo hướng dẫn CCA. Bản tóm tắt dành cho khách hàng EU. Bản đầy đủ chứa dữ liệu nhạy cảm được chuyển thẳng cho đơn vị kiểm chứng qua hệ thống CBAM. Thỏa thuận với khách hàng phải nêu định dạng, kỳ dữ liệu và phạm vi bảo mật. Hai bản phải truy ngược được về cùng hồ sơ năng lượng, sản lượng và phương pháp tính.

Cổng đăng ký CBAM có mô-đun dành cho cơ sở ngoài EU (Operators of Third-Country Installations, O3CI). O3CI cho phép nhà sản xuất tải lên và chia sẻ dữ liệu cơ sở cùng phát thải. Hệ thống hỗ trợ giữ kín thông tin kinh doanh nhạy cảm và đưa dữ liệu vào báo cáo của người khai báo. Khách hàng EU phải cung cấp mã EORI cho nhà cung cấp để truy xuất hồ sơ liên quan. Phân công giữa hai bên phải xác định người đăng ký, người kiểm chứng và người nộp.

Kỹ sư xem dữ liệu phát thải của nhà máy và biểu mẫu CBAM trên màn hình (ảnh minh họa)

Giá trị thực tế, giá trị mặc định và kiểm chứng

Giá trị thực tế (actual values) được tính từ dữ liệu của cơ sở sản xuất theo phương pháp CBAM. Từ ngày 1/1/2026, dữ liệu thực tế của hàng thuộc phạm vi CBAM phải được đơn vị đủ tư cách kiểm chứng. Phạm vi công nhận của đơn vị kiểm chứng được chia theo nhóm sản phẩm, nên chứng nhận ở một nhóm chưa mặc nhiên bao quát nhóm khác. Dữ liệu tiền chất từ nhà cung cấp cũng cần hồ sơ kiểm chứng nếu được dùng làm giá trị thực tế.

Giá trị mặc định (default values) lấp khoảng trống khi nhà sản xuất chưa có dữ liệu thực tế đạt yêu cầu. Ủy ban châu Âu công bố bộ giá trị mặc định đã sửa ngày 10/8/2026, sau Quy định thực thi EU 2026/1740. Mỗi hồ sơ nội bộ vì thế cần lưu ngày tải, phiên bản và căn cứ áp dụng. Giá trị mặc định không thay thế quá trình xây dựng dữ liệu cấp cơ sở và cấp sản phẩm.

EU cho phép trừ phần giá carbon đã trả trong quá trình sản xuất nếu nhà nhập khẩu cung cấp được bằng chứng. Quy tắc này chưa đồng nghĩa mọi chi phí carbon nộp tại Đài Loan tự động được chấp nhận. Mức khấu trừ và loại chứng từ phụ thuộc quy định đang áp dụng cùng hồ sơ của từng lô hàng. Hợp đồng thương mại cần xác định bên thu thập chứng từ và bên chịu rủi ro khi yêu cầu khấu trừ không được chấp thuận.

Năm chốt kiểm soát trước khi chuyển dữ liệu

Quy trình chuẩn bị bắt đầu từ mã hàng, không bắt đầu từ tổng phát thải của doanh nghiệp. Dữ liệu phải nối được sản phẩm với nhà máy, dây chuyền, năng lượng, tiền chất và báo cáo kiểm chứng. Năm chốt dưới đây gom các trường thông tin mà doanh nghiệp Đài Loan cần thống nhất với khách hàng EU.

  1. Danh mục hàng ghi mã CN, số lượng, cơ sở sản xuất và kỳ báo cáo, kèm kết quả đối chiếu phạm vi CBAM hiện hành.
  2. Bản đồ quy trình liên kết sản lượng và năng lượng của từng dây chuyền với chứng từ gốc.
  3. Dữ liệu phát thải trực tiếp, gián tiếp và tiền chất được quản lý riêng theo yêu cầu của từng nhóm hàng.
  4. Hồ sơ ghi rõ mặt hàng dùng giá trị thực tế, đơn vị kiểm chứng và phiên bản giá trị mặc định cho phần còn thiếu.
  5. Thỏa thuận với khách hàng EU xác định người khai báo, định dạng tiếng Anh, phạm vi bảo mật và hạn nộp chậm nhất ngày 30/9/2027.

Mỗi lần sửa hệ số, sản lượng hoặc dữ liệu nhà cung cấp cần để lại lịch sử phiên bản. Hồ sơ giao cho khách hàng phải khớp với bản chuyển cho đơn vị kiểm chứng. Chuỗi truy xuất này giúp người khai báo giải thích chênh lệch khi dữ liệu được rà soát.

Nhà máy chế tạo tại Đài Loan với đồ họa quản lý phát thải (ảnh minh họa)

Nguồn hỗ trợ tại Đài Loan và điểm đối chiếu ở Việt Nam

CCA tiếp tục cập nhật các trang về quy định, cách tính và kiểm chứng dành cho doanh nghiệp tại Đài Loan. Cơ quan Phát triển Công nghiệp thuộc Bộ Kinh tế Đài Loan duy trì cổng kiểm kê carbon với tài liệu, công cụ số và tư vấn trực tuyến. Đây là cơ quan hỗ trợ phát triển ngành chế tạo và cung cấp nguồn lực thực hành tại Đài Loan. Các công cụ này hỗ trợ chuẩn hóa dữ liệu nội bộ nhưng không thay thế văn bản EU hoặc báo cáo kiểm chứng.

Bộ Công Thương Việt Nam nêu dữ liệu phát thải minh bạch phải dựa trên đo lường, báo cáo và kiểm chứng. Tại Việt Nam, trách nhiệm pháp lý vẫn thuộc nhà nhập khẩu EU, còn nhà sản xuất cung cấp dữ liệu. Các cổng hỗ trợ tại Đài Loan không phải dịch vụ dành cho nhà máy ở Việt Nam. Tài liệu EU và kênh chính thức trong nước là hai nguồn áp dụng cho phần việc tại Việt Nam. Đến ngày 22/8/2026, chúng tôi chưa tìm thấy số liệu chính thức tại Việt Nam so sánh chi phí tuân thủ với Đài Loan.

Nhóm nhân viên đối chiếu dữ liệu chuỗi cung ứng và danh sách tuân thủ CBAM (ảnh minh họa)

Những giới hạn chưa thể chốt bằng một ngưỡng duy nhất

Phạm vi mã CN, phương pháp tính và giá trị mặc định tiếp tục thay đổi theo văn bản EU. Ngưỡng 50 tấn chỉ xác định nghĩa vụ của nhà nhập khẩu hoặc đại diện hải quan gián tiếp ở EU. Một lô hàng từ Đài Loan không tự động được miễn yêu cầu dữ liệu chỉ vì lượng xuất riêng lẻ dưới mốc này. Kết luận cuối cùng còn phụ thuộc mã CN và tổng lượng nhập của chủ thể khai báo trong năm.

Chi phí CBAM không thể suy ra từ ngưỡng 50 tấn. Phép tính còn cần lượng phát thải hàm chứa, giá chứng chỉ, phần giá carbon được chấp nhận khấu trừ và số chứng chỉ phải nộp. Lựa chọn giữa giá trị thực tế với giá trị mặc định, chi phí kiểm chứng và nội dung hợp đồng cũng làm kết quả khác nhau. Doanh nghiệp Đài Loan kiểm soát được chuỗi dữ liệu sản phẩm để khách hàng EU khai báo và giải trình.