Cáp 161 kV là một cấp truyền tải quan trọng trong hệ thống điện của Đài Loan. Điện từ nhà máy được nâng lên 345 kV để đi xa, sau đó hạ xuống 161 kV và 69 kV tại các trạm biến áp trước khi đến khu công nghiệp, phụ tải lớn và mạng phân phối. Tài liệu của Taipower mô tả đường đi của điện từ nhà máy qua các cấp điện áp này.
161 kV không phải điện áp của ổ cắm gia đình. Con số này chỉ cho biết cấp điện áp danh định của một phần lưới điện. Lượng điện truyền được còn phụ thuộc tiết diện lõi dẫn, số mạch, công suất máy biến áp, cách đặt cáp và điều kiện tản nhiệt. Với trung tâm dữ liệu, nhà máy bán dẫn hoặc khu công nghiệp, điểm cần hỏi trước là khả năng đấu nối cụ thể chứ không phải chỉ là khoảng cách đến tuyến cáp.
161 kV nằm ở đâu trong lưới điện
Taipower giải thích hệ thống theo các tầng điện áp. Nhà máy phát điện đưa điện qua máy biến áp để nâng lên 345 kV. Trạm biến áp siêu cao áp hạ xuống 161 kV, rồi trạm biến áp sơ cấp hạ tiếp xuống 69 kV. Các trạm phân phối và máy biến áp tiếp tục đưa điện về mức dùng cho nhà ở và cơ sở kinh doanh. Điện áp cao giúp giảm dòng điện khi truyền cùng một mức công suất trên quãng đường dài, từ đó giảm tổn thất trên đường dây.
Trong cách gọi của ngành điện, 161 kV là cấp truyền tải sơ cấp. Nó thường gắn với trạm biến áp khu vực, khu công nghiệp và phụ tải lớn. Dự án bốn mạch 161 kV Đại Đàm - Lâm Khẩu của Taipower dài khoảng 30 km và kết nối hai nhà máy điện để điều phối điện giữa các khu vực. Số mạch và khả năng chuyển tải giữa các nút quan trọng không kém cấp điện áp.
Vì vậy, 161 kV không phải một con số dùng để quy đổi trực tiếp ra công suất cung cấp cho doanh nghiệp. Một tuyến có cùng điện áp vẫn cho kết quả khác nhau nếu lõi dẫn, máy biến áp, khoảng cách, nhiệt độ đất và sơ đồ vận hành khác nhau. Khả năng cấp điện phải được đơn vị vận hành đánh giá theo vị trí và phụ tải của từng dự án.
Cấu tạo cáp XLPE 161 kV
Cáp cao áp không chỉ là một sợi dây đồng bọc nhựa. Theo hình cắt của Taipower, cáp 161 kV gồm lõi đồng, băng bán dẫn, lớp bán dẫn bên trong, lớp cách điện XLPE, lớp bán dẫn bên ngoài, lớp chống nước, lớp chắn kim loại, băng buộc, lớp chắn nước và vỏ PVC. Mỗi lớp kiểm soát một phần của hệ thống: dẫn điện, phân bố điện trường, cách điện, nối đất, chống ẩm và bảo vệ cơ học.
XLPE là polyethylene liên kết ngang, dùng làm lớp cách điện quanh lõi dẫn. Các lớp bán dẫn giúp điện trường chuyển tiếp ổn định tại ranh giới giữa lõi và lớp cách điện. Lớp chắn kim loại tạo đường dẫn cho dòng sự cố và hỗ trợ nối đất. Lớp chống nước cùng vỏ ngoài hạn chế nước xâm nhập, nhưng không loại bỏ yêu cầu kiểm tra mối nối, điều kiện hầm và khả năng thoát nhiệt.
Cáp ngầm có ưu điểm về độ tin cậy và sức chứa trong một số vị trí đô thị. Đổi lại, chi phí xây dựng cao hơn, sửa chữa khó hơn và thời gian xử lý sự cố dài hơn so với đường dây trên không. Tuyến dài còn phải tính đến điện dung của cáp và công tác thử nghiệm trước khi đóng điện. Tài liệu kỹ thuật của Taipower nêu cả lợi ích và chi phí vận hành của phương án đi ngầm.
Taipower đang tăng sức bền lưới điện ra sao
Taipower tập trung vào ba hướng: thay dây hoặc nâng công suất tuyến hiện hữu, đưa các tuyến quan trọng xuống hầm và cải tạo trạm biến áp để tạo thêm nút cấp điện. Tài liệu về sức bền lưới điện của Taipower cho biết mục tiêu là thu hẹp phạm vi ảnh hưởng khi xảy ra sự cố và rút ngắn thời gian khôi phục. Sức bền cao hơn không đồng nghĩa với cam kết không bao giờ mất điện.
Một ví dụ ở đô thị là dự án cải tạo trạm biến áp Trung Sơn tại Đài Bắc. Theo tài liệu công khai, dự án đưa trạm ngoài trời cũ vào công trình trong nhà và xây hầm khiên dài khoảng 1,63 km, đường kính trong 3,2 m, độ sâu trung tâm khoảng 16,8 đến 36 m để chứa tuyến 161 kV. Bài giới thiệu dự án của Taipower mô tả hầm ngầm và việc cải tạo trạm trong cùng một kế hoạch cấp điện đô thị.
Tuyến Đại Đàm - Lâm Khẩu cho thấy quy mô thi công của một tuyến liên kết nhiều nút. Công trình gồm hai đoạn hầm khiên, 22 đoạn ống đẩy và 93 hố ga. Tuyến chạy dưới hành lang đường bộ có nhiều đường ống dầu, khí tự nhiên và cáp viễn thông, nên việc khảo sát công trình ngầm quyết định phương án thi công. Mối nối cáp cũng cần môi trường được kiểm soát và phải thử nghiệm trước khi vận hành.
Bộ Kinh tế Đài Loan đã đưa nhu cầu của trung tâm dữ liệu và ngành bán dẫn vào dự báo cung cầu điện giai đoạn 2026 đến 2035, với mức tăng nhu cầu điện bình quân khoảng 2,5% mỗi năm trong kịch bản được công bố. Con số này là dự báo toàn hệ thống, không cho biết một trung tâm dữ liệu cụ thể sẽ được cấp ở cấp 161 kV. Báo cáo của Bộ Kinh tế Đài Loan nêu phạm vi dự báo và các nhóm phụ tải được tính vào mô hình.
Tại Việt Nam thì sao
Việt Nam không dùng cấp 161 kV làm mốc chính trong Quy hoạch điện VIII. Bộ Công Thương khi công bố Quy hoạch điện VIII điều chỉnh đã nêu các hạng mục lưới truyền tải 500 kV và 220 kV. Vì vậy, doanh nghiệp ở Việt Nam không nên lấy tên gọi 161 kV của một dự án tại Đài Loan để suy ra cấp đấu nối, tiêu chuẩn hồ sơ hoặc chi phí tại địa phương. Đây là khác biệt về quy hoạch và cấu trúc lưới, không phải khác biệt trong nguyên lý cáp cao áp.
Về thiết bị, cáp XLPE, lớp bán dẫn, lớp chắn kim loại, mối nối và yêu cầu tản nhiệt vẫn là những mục kỹ thuật cần kiểm tra trong mọi dự án cao áp. Tuy nhiên, cấp điện áp, sơ đồ trạm, quyền quản lý hành lang và đơn vị tiếp nhận hồ sơ phải căn cứ vào khu vực cụ thể. Quy hoạch điện VIII điều chỉnh được Bộ Công Thương công bố ngày 16/4/2025 cũng yêu cầu xem xét khả năng giải tỏa công suất của lưới và điều kiện vận hành khi phát triển nguồn điện. Điều đó có nghĩa là vị trí nhà máy, phụ tải mới và năng lực đường dây phải được xem cùng nhau.
Giá điện bán lẻ không phải bảng giá của một tuyến cáp hay giá đấu nối. EVN thông báo giá bán lẻ điện bình quân từ ngày 10/5/2025 là 2.204,0655 đồng/kWh chưa gồm thuế giá trị gia tăng, theo quyết định và quy định được dẫn trong thông báo. Mức này dùng để hiểu khung giá bán lẻ bình quân, không thể dùng để tính chi phí xây trạm, kéo cáp, giải phóng mặt bằng hoặc mua điện riêng cho một nhà máy.
Doanh nghiệp cần tách ít nhất bốn nhóm chi phí khi lập hồ sơ ở Việt Nam: tiền điện theo nhóm khách hàng và thời điểm sử dụng, chi phí trạm và thiết bị bảo vệ, chi phí đường dây hoặc cáp đến điểm đấu nối, cùng chi phí khảo sát và thi công. EVN công bố giá điện theo nhóm khách hàng, còn khả năng cấp điện và phương án đấu nối phải hỏi đơn vị điện lực có thẩm quyền tại địa bàn. Không có cơ sở để khẳng định một khu công nghiệp bất kỳ đã sẵn cáp ngầm 161 kV nếu chưa có hồ sơ dự án hoặc thông tin kỹ thuật chính thức.
Đối với dự án trung tâm dữ liệu, nên gửi sớm thông tin về công suất cực đại, biểu đồ phụ tải, thời điểm vận hành, yêu cầu dự phòng và vị trí. Bộ Công Thương đã yêu cầu địa phương cập nhật danh mục trung tâm dữ liệu cùng nhu cầu điện, vị trí và thời điểm vận hành trong quá trình rà soát quy hoạch. Đây là đầu mối quy hoạch, không phải giấy xác nhận rằng một địa điểm đã có sẵn công suất. Tính đến thời điểm bài viết được thực hiện, chúng tôi chưa tìm thấy bảng giá công khai riêng cho cáp 161 kV hoặc dữ liệu quốc gia cho biết mức sẵn có của cấp điện áp này tại từng khu công nghiệp ở Việt Nam.
Doanh nghiệp cần kiểm tra gì trước khi chọn địa điểm
Hồ sơ tiền khả thi nên đặt công suất có thể nhận, điểm đấu nối và khoảng cách đường dây trong cùng một bảng. Sau đó mới kiểm tra số mạch, phương án dự phòng, công suất máy biến áp, lịch khảo sát, thời gian cấp phép và cửa sổ thi công. Có tuyến 161 kV gần khu đất không có nghĩa là trạm còn đủ dung lượng hoặc doanh nghiệp được đấu nối trực tiếp vào tuyến đó.
Với trung tâm dữ liệu, yêu cầu điện cho tải tính toán, làm mát, lưu trữ và dự phòng phải được nêu riêng. Bộ Kinh tế Đài Loan nêu việc đánh giá khả năng lấy đủ công suất từ Taipower hoặc nguồn phát điện tự dùng trong giai đoạn chọn địa điểm của trung tâm dữ liệu lớn. Các tiêu chí này cho thấy câu hỏi về cáp chỉ là một phần của bài toán năng lượng.
Đối với hộ gia đình, cáp 161 kV ảnh hưởng gián tiếp qua độ ổn định của lưới, kế hoạch thi công và thời gian khôi phục điện. Điện đến ổ cắm đã đi qua nhiều lần biến đổi điện áp. Bài hướng dẫn về mật độ công suất tủ máy AI có thể giúp nối phần hạ tầng lưới với việc tính tải ở phía trong trung tâm dữ liệu.
Câu hỏi thường gặp
161 kV tương đương bao nhiêu volt?
161 kV tương đương 161.000 volt và là cấp điện áp danh định của một phần lưới truyền tải. Điện áp này nằm dưới 345 kV và trên 69 kV trong sơ đồ Taipower.
Cáp 161 kV có nối thẳng vào nhà dân không?
Không. Điện phải qua trạm biến áp và mạng phân phối để hạ xuống các cấp dùng cho hộ gia đình. Người dân thường nhận biết dự án qua thông báo thi công, thay đổi mặt bằng hoặc kế hoạch mất điện.
Trung tâm dữ liệu có bắt buộc nối vào 161 kV không?
Không. Cấp đấu nối do đơn vị điện lực đánh giá theo vị trí, phụ tải, công suất trạm và điều kiện hệ thống. Tại Đài Loan, hồ sơ năng lượng của trung tâm dữ liệu lớn còn phải xem khả năng lấy đủ công suất và hiệu quả sử dụng năng lượng.
Nguồn và tài liệu tham khảo
- Giải thích hệ thống điện và khác biệt giữa dây điện với cáp điện (tiếng Trung)(Taipower)
- Dự án bốn mạch cáp 161 kV Đại Đàm - Lâm Khẩu (tiếng Trung)(Taipower)
- Các nút mới trong kế hoạch tăng sức bền lưới điện (tiếng Trung)(Taipower)
- Cải tạo trạm biến áp Trung Sơn và hầm khiên cáp ngầm (tiếng Trung)(Taipower)
- Tăng sức bền lưới điện để bảo đảm cung cấp ổn định (tiếng Trung)(Taipower)
- Báo cáo cung cầu tài nguyên điện toàn quốc năm 2025 (tiếng Trung)(Bộ Kinh tế Đài Loan)
- Đánh giá thuyết minh sử dụng năng lượng của trung tâm dữ liệu (tiếng Trung)(Bộ Kinh tế Đài Loan)
- Tổng quan hoạt động của Taipower (tiếng Trung)(Taipower)
- EVN điều chỉnh giá bán lẻ điện bình quân từ ngày 10/5/2025(Tập đoàn Điện lực Việt Nam)
- Quy hoạch điện VIII điều chỉnh được phê duyệt(Bộ Công Thương)